Từ Cây hoa dạ hợp.. đến vị thuốc hậu phác

0
1376
MagnoHa , thuộc Gia đình thực ivật MagnoHaceae ià một trong ịnhững cây hoa rất được ưa chuộng rtại Hoa Kỳ. Giống Magnolia có khoảng 128 loài, đa số là những cây zó /á xanh quanh nãm. Magnolia mọc ịtự nhiên tại Á châu, Đông Nam Hoa ỈKỳ, Nam Mỹ..nhưng chỉ có 6 loài là Ịf/?ổ sinh tại Mỹ. MagnoHa có thể là nột cây loại đại thụ cao đến 30m loặc mọc thành bụi phân nhánh ihiều thân có thể cao đến 15m , ihưng thông thường chỉ cao khoảng "3-6 m. MagnoHa cho hoa rất đẹp, thơm và màu sắc thay đổi tùy loài: từ trắng đến hồng, đỏ , đỏ đậm và từ vàng nhạt, vàng chanh đến vàng tươi. Trong sô' các loài cho hoa đẹp còn có những loài cung cấp những dược liệu đáng chú ý..
A. Cây hoa Magnolia :
Khi nói đến Magnolia, các nhà trồng hoa tại California và Arizona nghĩ ngay đến Magnolia grandifolia vì đây là cây hoa rất phổ biến, lá tươi, hoa to, đẹp, chịu được nóng nhiệt và đất ẩm nhưng cũng cần sự chăm sóc.; tuy được xem là cây trông bên ven đường hay trên thảm cỏ, nhưng rễ thường làm
hỏng đường đi..và bóng cây làm cỏ mọc không đều..
B. Magnolia trong Đông Y :
Đông Y cổ truyền sử dụng Magnolia để chế biến thành 2 vị thuốc chính Hậu phác và Tân Di hoa
1. Hậu phác : (Hou po)
Hậu phác là vỏ Magnolia officinalis hay M. bilola , thu hoạch nơi các cây từ 15-20 năm tuổi, trong các tháng 4-6, phơi khô. (Tại Trung hoa : Magnolia mọc nhiều ở Tứ xuyên, Hồ bắc, Triết giang, Giang tây..)
Vị thuốc đã được ghi trong Thần nông bản thảo ( Nhật dược gọi là Koboku, Đại hàn gọi là mubak).
Hậu phác được xem là có vị đắng, cay; tính ấm tác động vào các kinh mạch thuộc Đại tràng, Phế, Tỳ và Vị..
Magnolia_Close_600
Hậu phác có những tác dụng :
Khởi động sự di chuyển của khí, khi Thấp gây rối loạn nơi Tỳ và Vị hay trung trường hợp thực phẩm bị ứ gây ra các triệu chứng nhưđau tức ngực," bụng dưới, có cảm giác đày bụng, ăn không ngon, ói mữa và tiêu chảy. Hậu phác được phối hợp với Khương truật (cang-zhu= Rhizoma Atractylodis) và Trần bì (chen-pi= Pericarpium Citri Reticulatae) để trị các chứng đày, cứng bao tử, ợ chua acid, buồn nôn và ói mửa. Nếu đau bụng do ăn không tiêu, Hậu phác được dùng với Chỉ kế (zhi-ke = Fructus Citri Aurantii).
■ Làm ấm và biến đổi 'Đờm', dẫn các nghịch Khí xuống : dùng để trị khò khè, do ỞĐỜm ứ tắc, ho và tức ngực. Hậu phác dùng chung với Táo nhân và Ma hoàng.
Hoa Magnolia officinalis hay Hậu phác hoa (hou po hua) được xem là có vị cay, tính ấm và thơm. Có những tác dụng trị liệu như vỏ nhưng yếu hơn và tác đọng chủ yếu vào Thượng tiêu và Trung tiêu và điều hòa Can Khí, thường dùng để trị các chứng đau tức ngực, đau bao tử do mất quân bình giữa Can và Vị. Liều dùng từ 3-6 gram.
2. Tân Di hoa (Xin yi hua) (Barbarian Bud)
Vị thuốc là nụ hoa của các cây Magnolia liliflora, M. biondii hay M. denudata, thu hái vào đầu mùa xuân khi hoa chưa nở hoàn toàn. Nhật dược gọi vị thuốc là Shini và Triều tiên là Sinihwa.
Vị thuốc, ghi chép trong Thần Nông Bản thảo, được xem là có vị cay, tính ấm tác động vào các kinh mạch thuộc Phế và Vị, có những tác dụng :
■ Trục được Phong-Hàn và làm thông thoát đường thở qua mũi : thường được dùng để trị các trường hợp nghẹt mũi, chảy nước mũi, không ngửi thấy mùi, và các chứng nhức đầu liên hệ
Tác dụng trị liệu tùy thuộc thêm vào các dược thảo cùng sử dụng như Tế Tân, Bạc Hà, Hoàng Cầm..
■ Tại Trung Hoa, ngoài những dạng thuốc viên và thuốc sắc, vị thuốc còn được chế tạo dưới dạng dầu thoa, thuốc xông.

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here